luật hàng hải quốc tế
CÔNG TY TNHH HÀNG HẢI QUỐC TẾ HẢI ĐĂNG. Tên giao dịch: LIMCO.,LTD Loại hình hoạt động: Công ty TNHH Hai Thành Viên trở lên Mã số thuế: 0200765694 Đại diện pháp luật: Nguyễn Quốc Khánh Ngày cấp giấy phép: 26/09/2007 Ngày hoạt động: 03/10/2007 (Đã hoạt động 14 năm)
Như vậy, Luật hàng hải quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh từ hoạt động hàng hải quốc tế trong việc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, thương mại, khoa học, văn hóa, thể thao, xã hội, công vụ nhà nước. Điều này cũng đã khẳng định rõ trong điều 1, khoản 1 Luật Hàng hải Việt
Luật này ngay lập tức gây sự chú ý của dư luận quốc tế, vì điều 54 quy định "các phương tiện tàu ngầm, tàu hạt nhân, tàu chở vật liệu phóng xạ và tàu chở dầu, hóa chất, khí đốt hóa lỏng và các chất độc hại khác phải báo cáo thông tin chi tiết khi đến lãnh hải Trung Quốc".
Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s. 1. Đề thi môn Luật Hàng hải lớp Chất lượng cao 37C3. Đề thi môn Luật Hàng hải lớp Chất lượng cao 38C4. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 39B5. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 41E6. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 41A Tuyển tập đề thi môn Luật hàng hải và vận tải quốc tế. Đề thi môn Luật Biển Đề thi môn Tư pháp quốc tế Đề thi môn Luật Hàng không dân dụng quốc tế Đề thi môn Luật Thương mại quốc tế Đề thi môn Chuyển giao công nghệ quốc tế TỪ KHÓA Đề thi Luật, Luật Hàng hải, Vận tải quốc tế 1. Đề thi môn Luật Hàng hải lớp Chất lượng cao 37C Cập nhật ngày 14/02/2014. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Chất lượng cao 37C Thời gian làm bài 60 phút Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL Các em hãy giải quyết tranh chấp sau đây Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tàu liên quan đến khả năng đi biển của tàu. Các bên tranh chấp Nguyên đơn Chủ hàng Australia Bị đơn Cty vận tải đường biển Trung Quốc. Các vấn đề được đề cập Hợp đồng thuê tàu chuyến; Kiện đòi bồi thường về tổn thất hàng hóa; Khả năng đi biển của con tàu; Sự mẫn cán hợp lý. Nguyên đơn, chủ hàng đồng thời là Người nhận hàng, ký với Bị đơn, Chủ sở hữu tàu, Hợp đồng vận chuyển MT cát silicon từ Bunbary Australia đến Burnside Louisiana. Chủ tàu đã ký phát clean B/L đề ngày 09 tháng 02 năm 1982, xác nhận hàng hóa đã được bốc lên hầm số 1 tầng trên hầm 1A, hầm số 2 tầng trên hầm 2A và hầm số 4. Khi tàu đến Burnside ngày 31 tháng 03 năm 1982, hàng hóa trong hầm 1A đã bị tổn thất. Nguyên đơn thông báo hàng tổn thất cho Bị đơn và yêu cầu một Cty giám định độc lập làm giám định tổn thất, Cty Giám định kết luận rằng nước đã vào hầm hàng này từ nắp hầm tàu và từ khoang nước dằn tàu nước để giữ cân bằng, ổn định tàu trên của con tàu. Chứng thư Giám định cho thấy cát trong Hầm 1A bị ướt nghiêm trọng ở một số chỗ, mẫu cát lấy từ những chỗ ướt này để kiểm tra clorua đã cho thấy cát tổn thất do bị ướt nước. Khoang dẫn tàu tiếp giáp với Hầm 1A chứa một lượng nước ngọt lấy từ sông Ministar trước khi tàu đến Burnside. Đại diện của Nguyên đơn cho biết đã thấy nước chảy vào hầm từ một khe nứt chỗ nối hàn trên vách ngăn phía trước và tiếp giáp với khoang dằn tàu bên sườn phải Hầm số 1. Số hàng bị tổn thất ở Hầm 1A được dỡ xuống sà lan, tính sơ bộ có khoảng 990,881 short tons short ton = 907,2 kgs bị tổn thất. Sau đó Nguyên đơn đã phải bán số hàng tổn thất này cho một người khác, thu được 99, 088 USD tức bán với giá 100USD/short ton. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn bồi thường USD tiền thiệt hại theo giá thị trường cho số cát bị tổn thất do Bị đơn đã không thực hiện sự mẫn cán hợp lý để làm cho tàu có đủ khả năng đi biển. Bị đơn thì cho rằng Nguyên đơn đã không chứng minh được các tổn thất mà Bị đơn phải chịu trách nhiệm vì vết nứt ở mối hàn trên ngăn tiếp giáp là một ẩn tỳ. Hơn nữa, theo Bị đơn, khiếu kiện đòi bồi thường này là quá đáng và tiền bồi thường chỉ giới hạn ở giá bán cộng với tiền cước vận chuyển gồm cả phí dỡ hàng tại cảng đích Freight landed value. Dữ liệu bổ sung 1 – Con tàu này được đóng tại Nam Tư năm 1962. Không có thông tin về việc cải hoàn, bảo dưỡng hay sửa chữa tàu, trừ một Hóa đơn đề tháng 9 năm 1981 của một xưởng sửa chữa tàu cho thấy tàu được sửa chữa thông thường và chứng từ kiểm tra phân hạng tiến hành gần thời gian này cũng không chứng minh được là đã có bất kỳ sự kiểm tra chi tiết nào về các mối hàn. 2 – Trong quan hệ thương mại, khi hàng hóa bị tổn thất, có nguyên tắc xác định giá hàng để tính khoản bị tổn thất nhằm đòi bồi thường. Xem thêm đề thi Tổng hợp 10+ Đề thi Hàng không dân dụng quốc tế Tổng hợp 8+ đề thi môn Lý luận định tội Tổng hợp 3+ Đề thi Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu 3. Đề thi môn Luật Hàng hải lớp Chất lượng cao 38C Cập nhật ngày 26/12/2016. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Chất lượng cao 38C Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên tự do sử dụng tài liệu giấy GV ra đề ThS Vũ Xuân Phong Lý thuyết Nghĩa vụ và các trường hợp miễn trách nhiệm của người vận chuyển theo Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015? Bài tập Hãy giải quyết vụ tranh chấp sau đây MẤT HÀNG ĐIỀU KHOẢN MIỄN TRÁCH VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM TRONG B/L Nguyên đơn PT Soolee Metalindo Petkasa Bị đơn Synergy Shipping Vấn đề được đề cập Điều khoản miễn trách Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển. Diễn biến sự việc Bị đơn ký hợp đồng, nhận vận chuyển cho Nguyên đơn 1300MT thép thanh từ Singapore về Batam Indonesia. Hàng được vận chuyển trên boong sà lan Limin XIX do bên thứ ba là Freighter Services là chủ sở hữu. Sà làn Limin XIX do tàu kéo Fajar Putra kéo. Tàu rời Singapore vào lúc 1750hrs ngày 21/3/2005. Nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn bồi thường vì mất hàng và Bị đơn đòi bên thứ ba Freighter Services – người vận chuyển thực tế bồi thường lại cho mình. Hàng được vận chuyển theo B/L do Bị đơn cấp. Trên B/L cả mặt trước và mặt sau đều ghi “Chở trên boong, người gửi hàng chịu mọi rủi ro’ Ship on deck at shipper’s risk. Mặt sau B/L có Điều 9 c loại trừ trách nhiệm về bất kỳ sự mất mát, hư hỏng hoặc chi phí liên quan tới hàng trên boong dù xảy ra như thế nào và dù do sơ suất tàu không đủ khả năng đi biển hoặc vì lý do nào khác” liability for any loss, damage or expense connected with deck cargo howsoever caused anh whether due to negligence, unseaworthiness or otherwise. Cả hai mặt B/L đều có Điều 64 c quy định giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển là 100 Euro/kiện. Tuy nhiên Nguyên đơn chưa bao giờ nhận được hoặc nhìn thấy một B/L chính original B/L; thực tế là Bị đơn giữ các bản B/L chính và gửi cho đại lý của Nguyên đơn một bản copy B/L. Mặt sau của copy B/L bỏ trống, do vậy Nguyên đơn không thấy Điều 9 c. Thông tin bổ sung Vào lúc khởi hành từ Singapore, sà lan Limin XIX không đủ khả năng đi biển, cấu trúc của sà lan rất kém, nhiều bộ phận đã bị ăn mòn nghiêm trọng. Theo sự phân tích kỹ thuật của giám định, hàng hóa bị tổn thất do sà lan Limin XIX không đủ khả năng đi biển. 4. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 39B Cập nhật ngày 15/12/2015. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Chất lượng cao 38C Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên tự do sử dụng tài liệu giấy GV ra đề TS. Đỗ Thị Mai Hạnh Lý thuyết 1 – Trình bày về đối tượng điều chỉnh của ngành luật hàng hải và nêu nét đặc thù của ngành luật hàng hải. 2 – Bạn hãy nêu chức năng của Giấy vận chuyển đường biển Seaway bill theo quy định của BLHH 2015? 3 – Bạn hãy nêu ý nghĩa của vận đơn và phân loại vận đơn sau đây căn cứ vào ghi chú trên vận đơn, tính pháp lý của vận đơn? Bài tập 1 – Tàu đến cảng lúc 215PM ngày 18/8/2015 và đưa “Thông báo sẵn sàng” TBSS lúc 330 PM cùng ngày. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chuyến Charter Party quy định thời điểm tàu đến cảng laycan trong khoảng 18-22/08/2015. Hỏi thời hạn làm hàng laytime được tính vào lúc nào? 2 – Công ty Sóng Đại Dương là một Công ty kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Công ty Sóng Đại Dương có ký hợp đồng nhận vận chuyển theo chứng từ vận chuyển một lô hàng mỹ phẩm từ Singapore về TP. Hồ Chí Minh cho một Công ty ở Singapore, hai bên thỏa thuận hợp đồng sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam. Trong quá trình vận chuyển, Công ty Sóng Đại Dương đã có một số sai sót dẫn đến làm hư hỏng một số lô hàng. Vậy theo quy định của BLHH 2015, Công ty có phải bồi thường không và mức bồi thường là bao nhiêu? Biết rằng Vận đơn không ghi cụ thể giá trị của lô hàng trên./. 5. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 41E Cập nhật ngày 14/12/2019. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Chất lượng cao 41E Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên tự do sử dụng tài liệu giấy GV ra đề ThS Phan Ngọc Tâm Nhận định Các nhận định sau đây là đúng hay sai? Tại sao? 1 – Trong hợp đồng thuê tàu, các bên được quyền tự do thỏa thuận về lịch trình và hành trình. 2 – Theo quy định tại Công ước Hamburg 1978, người chuyên chở không có nghĩa vụ cung cấp con tàu đủ khả năng đi biển. 3 – Vận đơn đường biển là bằng chứng của một hợp đồng vận chuyển. 4 – Thời điểm kết thúc nghĩa vụ của người chuyên chở đối với hàng hóa trong hợp đồng thuê tàu chợ là thời điểm hàng hóa được dỡ khỏi tàu tại cảng dỡ. Lý thuyết 1 – Phân tích các chức năng của vận đơn đường biển trong hợp đồng thuê tàu chợ. 2 – So sánh và lý giải những điểm khác biệt về nghĩa vụ cơ bản của người chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chợ theo quy định của Công ước Brussels 1924 và Công ước Hamburg 1978. Liên hệ đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này./. 6. Đề thi môn Luật Hàng hải và vận tải quốc tế lớp Chất lượng cao 41A Cập nhật ngày 17/12/2019. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Lớp Chất lượng cao 41A Thời gian làm bài 75 phút Sinh viên tự do sử dụng tài liệu giấy GV ra đề ThS Phan Ngọc Tâm Nhận định Các nhận định sau đây là đúng hay sai? Tại sao? 1 – Trong hợp đồng thuê tàu, người chuyên chở và người thuê chở được tự do thỏa thuận về cước phí. 2 – Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thuê tàu chợ bao gồm các Công ước quốc tế và pháp luật quốc gia. 3 – Trong hợp đồng thuê tàu chợ, vận đơn đường biển chỉ được cấp phát sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu. 4 – Theo quy định của Công ước Hamburg 1978, thời điểm bắt đầu nghĩa vụ của người chuyên chở đối với hàng hóa là thời điểm hàng hóa được xếp lên tàu tại cảng xếp hàng. Lý thuyết 1 – Phân tích những điểm khác nhau cơ bản giữa hợp đồng thuê tàu chợ và hợp đồng thuê tàu chuyến. 2 – So sánh và lý giải những điểm khác biệt về các trường hợp miễn trách của người chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chợ theo quy định của Công ước Brussels 1924, Công ước Hamburg 1978. Theo anh chị các Công ước trên có ảnh hưởng như thế nào đối với pháp luật hàng hải Việt Nam và đề xuất Việt Nam gia nhập vào một Điều ước quốc tế phù hợp nhất./. GHI CHÚ Nếu bạn có đề thi muốn chia sẻ hãy gửi cho chúng tôi qua email để chia sẻ cho các bạn học viên khóa sau nhé! Trân trọng!
Nhìn chung luật hàng hải quốc tế nghiên cứu chủ yếu đến các quy định phápluật quốc tế và quốc gia dành cho các phương tiện giao thông trên biển màđặc biển có thể nói là tàu biển. Như vậy, Luật hàng hải quốc tế điều chỉnhcác quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh từ hoạt động hàng hải quốc tế trongviệc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, thương mại, khoa học, vănhóa, thể thao, xã hội, công vụ nhà này cũng đã khẳng định rõ trong điều 1, khoản 1 Luật Hàng hải ViệtNam được Quốc hội Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 khóa XI ngày 14tháng 6 năm 2005 và đã được Chủ tịch nước công bố ngày 27/6/2005 đã ghinhận “… hoạt động hàng hải bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ,cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải,phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động liên quan đến sử dụng tàubiển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và khoa học.” Đối tượng điều chỉnh của luật hàng hải quốc tếPháp luật hàng hải quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật rất phong phúphát sinh trong quá trình hoạt động vận chuyển hàng hải quốc tế mà chủ yếulà vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường biển giữa các quốc gia từcảng biển của nước này đến cảng biển của nước khác. Nhận thức này đượcthừa nhận chung trong pháp luật hàng hải của các nước trên thế thừa và phát huy những thành quả của các thế hệ ông cha ta trước đâytrong giao lưu hàng hải với các nước, tiếp thu những tiến bộ của các nước cóhệ thống pháp luật hàng hải phát triển, quan điểm trên được thể hiện rất rõtrong luật hàng hải Việt Nam. Theo quy định của pháp luật hàng hải quốc tếđược ghi nhận trong rất nhiều công ước quốc tế về hàng hải cũng như trongbộ luật hàng hải của Việt Nam thì hoạt động hàng hải là những hoạt động liênquan đến việc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội,khoa học, thể thao, du lịch và công vụ nhà nước di chuyển trên biển và cácvùng nước cận kề liên quan với Thực chất ở đây là việc nghiên cứu chủ yếu các vấn đề pháp lý liên quan đếntàu biển trong vận chuyển quốc tế. Nó bao gồm một số quan hệ cơ bản như- Quan hệ giữa chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu với chủ hàng,người gửi hàng, người nhận hàng;- Quan hệ của tàu biển với cảng biển, người cung cấp các dịch vụ trongcảng biển;- Các quan hệ nội bộ của các đối tượng trên;- Giải quan các tranh chấp trong vận chuyển hàng hảiBốn lĩnh vực trên có thể nói thuộc các quan hệ dân sự, song tàu biển và cácphương tiện vận tải còn phải chịu sự chi phối bắt buộc về mặt hành chínhquản lý hành chính đối với tàu biển như đăng ký, đăng kiểm, an toàn, anninh hàng hải, các vấn đề liên quan đến phòng và chống ô nhiễm môi trườngbiển…. Đây cũng là một trong những đặc thù quan trọng trong đối tượng củaluật hàng hải quốc Nguồn của luật hàng hải quốc tếNguồn của luật hàng hải quốc tế gồm có các điều ước quốc tế, luật quốc giavà tập quán hàng hải quốc Điều ước quốc Khái niệm điều ước quốc tếTrong các quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là các nướckhu vực Đông Nam Á thì điều ước quốc tế là nguồn của Tư pháp quốc tếngày càng đóng vai trò quan trọng và mang ý nghĩa thiết thực. Đây là các điềuước quốc tế về thương mại và hàng hải quốc tế; Các hiệp định về trao đổihàng hóa và thanh toán, Hiệp định về tương trợ tư pháp dân sự; gia đình vàhình sự. Vậy, chúng ta cần phải hiểu được thế nào là điều ước quốc ước quốc tế là nguồn được xây dựng bằng các quy phạm, tức là nó đượcxây dựng bằng các quy phạm chung hoặc các quy phạm riêng. Các quy phạm8 đó quy định quyền và nghĩa vụ đối với các bên của điều ước quốc tế. Bản chấtpháp lý của điều ước quốc tế được thể hiện ở chỗ nó thể hiện sự dung hòa vềý chí, về lợi ích, về các quan điểm của các quốc gia hoạc các chủ thể khác củaluật pháp quốc tế. Điều ước quốc tế đã tạo thành cơ sở pháp lý cho các quanhệ pháp lý quốc tế. Như vậy, “điều ước quốc tế là thỏa thuận giữa các chủthể của luật quốc tế, trong đó việc ký kết, hiệu lực và chấm dứt hiệu lực củanó được điều chỉnh bằng luật quốc tế.” [9; 4] Tên gọi của điều ước quốc tếĐiều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa cácquốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, khôngphụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhấthay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộcvào tên gọi cụ thể của những văn kiện ước quốc tế là tên khoa học pháp lý chung để chỉ các văn bản pháp luậtquốc tế do hai hay nhiều chủ thể luật quốc tế ký kết. Trong từng quan hệ điềuước cụ thể, điều ước có thể được gọi bằng rất nhiều tên gọi khác nhau nhưhiệp ước, hiệp định, công ước, hiến chương, quy điều ước quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều không cónhững quy định cụ thể nhằm ấn định rõ tên gọi cho từng loại điều ước. Trongthực tiễn, có những điều ước có cùng nội dung và tính chất nhưng giữa cácvăn bản điều ước này lại có thể có tên gọi khác nhau. Việc xác định tên gọi cụthể cho một điều ước hoàn toàn do các chủ thể ký điều ước đó thỏa thuậnquyết Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hảiĐiều ước quốc tế vừa là phương tiện, vừa là công cụ quan trọng điều chỉnhcác quan hệ pháp lý quốc tế. Trong lý luận và thực tiễn của khoa học pháp lýquốc tế, điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của công ước quốc tế và cũng là9 nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế và trong lĩnh vực luật hàng hải quốc tếnó có một vị trí đặc biệt. Vị trí đặc biệt này thể hiện ở chỗ- Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế chứa đựng hầu hết các nguyêntắc và quy phạm pháp luật được thỏa thuận của các quốc gia trên thế giới ởquy mô toàn cầu, khu vực và song phương; các nguyên tắc và các quy phạmpháp luật về hàng hải quốc tế này ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhưnhững mực thước quy chuẩn để mọi chủ thể tham gia hoạt động hàng hải phảituân thủ tuyệt đối;- Có thể nói là số lượng các điều ước trong lĩnh vực hàng hải quốc tế là rấtnhiều so với các lĩnh vực khác và nó có đặc điểm là liên quan chặt chẽ đếnnhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như luật thương mại quốc tế, luật bảohiểm quốc tế, luật môi trường quốc tế, luật hành chính và hình sự quốc Một số lượng không nhỏ các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải quốctế có mục tiêu thống nhất pháp luật hàng hải của các quốc gia và chúngthường được áp dụng trực tiếp cho mọi hoạt động, duy trì và thông thươnghàng hải quốc tế bình thường;- Các điều ước trong lĩnh vực hàng hải có tác động và ảnh hưởng tích cực đếnviệc xây dựng pháp luật hàng hải của các quốc gia, nhất là đối với các nướcđang phát triển và chậm phát triển;Ở Việt Nam, việc tham gia các điều ước quốc tế là một việc hệ trọng trongcông tác xây dựng pháp luật và được nhà nước đặc biệt quan tâm. Năm 2005,Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật kí kết, gia nhập và thựchiện điều ước quốc tế thay thế cho Pháp luật 1998. Đồng thời với việc banhành pháp luật chúng ta cũng tham gia các Công ước về Luật điều ước quốctế như Công ước Viên 1969 vào năm 2001 có hiệu lực đối với Việt Nam. Việcban hành luật cũng như tham gia các công ước chứng tỏ Việt Nam rất coitrọng việc tham gia các điều ước và tuân thủ thực hiện các cam kết được ghinhận trong đó. Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải quốc tế thường là cácđiều ước thành lập các tổ chức, các hiệp hội hoặc các liên đoàn vận chuyển10 đường biển quốc tế; sau đó trong khuôn khổ của các tổ chức này có thể kí kếthoặc ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý quốc tế về hoạt động hàng hảigiữa các quốc gia thành viên và giữa tổ chức với các quốc gia nhằm tạo hànhlang pháp luật thống nhất cho các công tác hoạt động hàng hải hữu hiệu phụcvụ đắc lực cho phát triển kinh tế ngoại thương của các nước. Sau đây là mộtsố điều ước quốc tế về hàng hải quan trọng* Các công ước của Liên hợp quốc LHQ, các ủy ban hay hiệp hội củaLHQ- Của Liên hợp quốc+ Công ước của LHQ về luật biển 1982 UNCLOS – 82- Của Ủy ban Hàng hải quốc tế CMI+ Dự thảo các quy tắc về đánh giá tổn thất trong các vụ va đâm hàng hải hảiQuy tắc Lisbon – 1988;+ Các quy tắc thống nhất của CMI về vận đơn đường biển 1990 CMI –Uniform rules for Sea WAYBILLS, 1990;+ Các quy tắc của CMI về vận đơn điện tử - 1990 CMI – Rules forElectronic Bills of lading, 1990;+ Quy tắc York – Antwerp, 1994 York – Antwerp Rules – 1994;+ Nguyên tắc hướng dẫn của các Hiệp hội phân cấp tàu biển – 1998 POCFS– 1998- Các quy tắc của UNCITRAL của LHQ+ Công ước của LHQ về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển HamburgRules – 1978+ Công ước của LHQ về vận chuyển hàng hóa bằng vận tải đa phương thức –1980 UN Convention on Multimodal Transport of Goods 1980;+ Công ước của LHQ về trách nhiệm của người khai thác cầu bến vận tảitrong thương mại quốc tế - 1991;- Các quy tắc của UNCTAD của LHQ+ Công ước về Bộ luật hướng dẫn đối với Hiệp hội tàu chợ - 1974;11 + Công ước của LHQ về điều kiện đăng ký tàu biển – 1986;+ Công ước của LHQ về cầm cố, thế chấp hàng hải Các công ước trong khuôn khổ Tổ chức Hàng hải Quốc tế+ Công ước về Tổ chức Hàng hải Quốc tế, 1948 IMO Convention+ Công ước về tạo điều kiện thuận lợi trong giao thông hàng hải quốc tế 1995 FAL Convention 1965;+ Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất ô nhiễm dầu –1969 CLC Convention 1969+ Công ước quốc tế liên quan đến sự can thiệp trên biển cả trong trường hợptai nạn gây ra ô nhiễm dầu – 1969 Intervetion 1969;+ Công ước về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực vận chuyển hạt nhân bằngđường biển – 1971;+ Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại do ô nhiễmdầu – 1971;+ Quy tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển – 1972;+ Công ước quốc tế về công-te-nơ Containers an toàn – 1972+ Công ước Athen về vận chuyển hành khách và hành lý bằng đường biển –1974;+ Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm đối với khiếu nại hàng hải –1976;+ Công ước về Tổ chức vệ tinh hàng hải quốc tế - 1979;Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải– 1988;+ Công ước quốc tế về cứu hộ - 1989;+ Công ước quốc tế về sẵn sàng, ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu –1990;+ Công ước quốc tế về cầm giữ và cầm cố hàng hải – 1993;+ Bộ luật quản lý an toàn hàng hải quốc tế - 1994 International SafetyMangament Code – “ISM Code” – 1994;12 + Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường tổn thất đối với vậnchuyển chất nguy hiểm, độc hại bằng đường biển – 1996 HNS Convention1996;+ Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển – 1999 International Convention onArrest of Ships, 1999;- Các công ước quốc tế của Hội đồng hàng hải quốc tế BRUSSELSCác công ước của hội đồng hàng hải quốc tế ra đời sớm so với các công ướcký kết trong khuôn khổ của LHQ và IMO, có thể nói nó là các quy định tiềnthân cho các công ước sau nó. Có thể kể đến một số công ước sau đây+ Công ước thống nhất các quy tắc liên quan đến đâm va và giữa các tàu –1910;+ Công ước về thống nhất các quy tắc liên quan đến trợ giúp và cứu hộ trênbiển – 1910;+ Công ước về thống nhất các quy tắc liên quan đến giới hạn trách nhiệm củachủ sở hữu tàu biển – 1924 cùng Nghị định thư kèm theo;+ Công ước về thống nhất các quy tắc chung của pháp luật liên quan đến vậnđơn và nghị định thư đã ký – 1924 La Hague Rules;+ Công ước quốc tế về việc thống nhất các quy tắc chung liên quan đến cầmgiữ và thế chấp tàu biển – 1926 và Nghị định thư kèm theo;+ Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến quyền tàiphán hình sự đối với các vấn đề đam va hoặc các tai nạn hàng hải khác –1952;+ Công ước quốc tế về các quy định liên quan đến quyền tài phán dân sự vềcác vấn đề trong các vụ va chạm tàu thuyền – 1952;+ Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển – 1952;+ Công ước quốc tế liên quan đến giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu tàubiển và Nghị định thư kèm theo – 1957;+ Công ước quốc tế liên quan đến hành khách đi tàu trốn vé – 1957;13 + Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến vậnchuyển hành khách bằng đường biển – 1961;+ Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến vậnchuyển hành lý bằng đường biển – 1967;+ Công ước quốc tế về trách nhiệm của người khai thác tàu hạt nhân – 1962;+ Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến cầm giữ vàthế chấp tàu biển – 1967;+ Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vậnđơn đường biển và các nghị định thư bổ sung Quy tắc Hague – Visby;+ Dự thảo Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc liên quan đến quyềntài phán dân sự, chọn luật, công nhận và thực hiện các bản án trong các vụđâm va – 1977;+ Và một số nghị định thư liên quan đến bổ sung và sửa đổi một số công ướcquốc tế phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xin được giới thiệu kỹ hơn vềmột số công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường như Công ướcquốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vận đơn đường biểnQuy tắc Hague, sau đó đến hội nghị năm 1968 mới gọi là Quy tắc Hague Visby, Công ước Liên hiệp quốc về vận chuyển hàng hóa bằng đường biểnQuy tắc Hamburg và Công ước Liên hiệp quốc về hợp đồng vận chuyểnhàng hóa quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng đường biển Quy tắcRotterdam.Quy tắc HagueTừ năm 1924 trở về trước, chưa có điều ước quốc tế nào được ký kết để điềuchỉnh hợp đồng thuê tàu chợ. Vì vậy, chủ tàu, người chuyên chở thường căncứ vào luật nước mình để đưa vào vận đơn các điều khoản về nghĩa vụ vàtrách nhiệm của người chuyên chở, do vậy gây nhiều phản ứng cho các chủhàng – người thuê chở. Để thống nhất những nguyên tắc về nghĩa vụ và tráchnhiệm của người chuyên chở và người thuê chở, ngày 25/8/1924 tại Brussels,14 Bỉ, đại diện 26 nước đã ký “Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắcvề vận đơn đường biển” và thường được gọi là Quy tắc Hague hay Công ướcBrussels tắc Hague có các điều khoản về nội dung của vận đơn đường biển, vềnghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở, các căn cứ miễn trách nhiệmcủa người chuyên chở, nghĩa vụ thông báo tổn thất hàng hóa của người nhậnhàng, giới hạn trách nhiệm bồi thường.“Hàng hóa” thuộc sự điều chỉnh của Quy tắc Hague gồm tất cả của cải, đồvật, hàng hóa, vật phẩm bất kỳ tính chất nào, kể cả hàng hóa theo hợp đồngchuyên chở được khai là hàng xếp trên boong và trong thực tế được chuyênchở. Súc vật sống được chuyên chở bằng tàu biển dưới hình thức vận đơnđường biển theo quy tắc này không được coi là “hàng hóa” nghĩa là khôngđược dùng quy tắc để điều tắc Hague được áp dụng cho những hợp đồng vận tải được thể hiện bằngmột vận đơn hoặc một chứng từ sở hữu tương tự trong chừng mực chứng từđó liên quan đến chuyên chở hàng hóa bằng đường biển. Quy tắc cũng đượcáp dụng cho những vận đơn hay chứng từ tương tự như trên được phát hànhtheo hay phụ thuộc vào một hợp đồng thuê tàu kể từ khi vận đơn ấy điềuchỉnh quan hệ giữa người chuyên chở và người cầm vận 23/2//1968 tại Hội nghị quốc tế về luật biển lần thứ 12, 47 nước đã ký“Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luậtliên quan đến vận đơn đường biển” thường gọi là Nghị định thư 1968 hayQuy tắc Visby. Nghị định thư 1968 đã sửa đổi, bổ sung một số điều khoảncủa Quy tắc Hague về thời hiệu khởi kiện, giới hạn bồi thường và đồng tiềnbồi thường, về phạm vị áp dụng quy tắc. Quy tắc Hague gộp với Nghị địnhthư 1968 có tên gọi là Quy tắc Hague-Visby. Năm 1979, các bên ký kết Quytắc Hague-Visby đã ký Nghị định thư bổ sung Quy tắc Hague, đã được Nghịđịnh thư 1968 bổ sung. Nội dung bổ sung liên quan đến đồng tiền tính toán15 bồi thường về mất mát, hư hỏng hàng hóa. Đồng SDR quyền rút vốn đặcbiệt được thay thế cho đồng Franc tắc Hague cũng như Quy tắc Hague-Visby mang tính chất bắt buộc đốivới những nước phê chuẩn, là nguồn luật điều chỉnh quyền lợi, nghĩa vụ vàtrách nhiệm của các bên theo hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất khẩu bằngtàu chợ. Ngoài ra, có những nước, trong đó có Việt Nam, chưa phê chuẩnCông ước nhưng thực tế vẫn áp dụng một phần nội dung Công ước để điềuchỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu tắc HamburgNgày 30/3/1978, tại Hamburg đã ký kết “Công ước LHQ về chuyên chở hànghóa bằng đường biển thường gọi là Công ước Hamburg 1978 hay là Quy tắcHamburg. Quy tắc này có hiệu lực năm với Quy tắc Hague, trong Quy tắc Hamburg khái niệm hàng hóa được mởrộng cả hàng tươi sống, nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở đượcquy định tăng lên, căn cứ miễn trách nhiệm của người chuyên chở được quyđịnh giảm đi…. Do Quy tắc Hamburg quy định trách nhiệm của người chuyênchở khá nặng và chủ yếu bảo vệ quyền lợi cho chủ hàng cho nên các chủ tàukhông muốn áp dụng. Điều này được xem như là một sự cạnh tranh khôngbình đẳng giữa các quốc gia có ngành hàng hải phát triển với các quốc giachậm phát triển. Cho đến nay có rất ít quốc gia phê chuẩn quy tắc tắc RotterdamTrước những bất cập của công ước quốc tế thống nhất về nghĩa vụ và tráchnhiệm của người chuyên chở hiện nay cũng như việc áp dụng và dẫn chiếucông ước rất khác nhau giữa các nước, Công ước Liên hiệp quốc về Hợp đồngvận chuyển hàng hóa một phần hoặc toàn bộ bằng đường biển Công ướcRotterdam hay Quy tắc Rotterdam được thông qua ngày 23/9/2009 tạiRotterdam. Đến nay đã có 22 quốc gia phê chuẩn. Sự ra đời của quy tắc đượcnhiều quốc gia trông đợi và áp dụng cho phép thay thế các quy tắc hiện tại16 vốn được áp dụng rất khác nhau giữa các nước trong thuê tàu chuyến và trongvận tải đa phương ước gồm 18 chương, 96 điều khoản. Các điều khoản của quy tắc đã kếthừa những ưu việt đồng thời loại bỏ một số bất cập và những hạn chế của cảhai quy tắc là Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc ước áp dụng cho hợp đồng chuyên chở hàng hóa mà nơi nhận hàng vànơi giao hàng nằm ở những nước khác nhau, cảng nhận hàng và cảng dỡ hàngcũng nằm ở những nước khác nhau, với điều kiện một trong các địa điểm sauphải nằm trong một nước tham gia quy tắc nơi nhận hàng, cảng xếp hàng, nơigiao hàng, hoặc cảng dỡ Luật quốc Khái niệm Luật quốc giaLuật Quốc gia là loại nguồn luật khá phổ biến của Tư pháp quốc tế so với cácloại nguồn luật khác. Luật pháp của mỗi quốc gia hay còn gọi là Luật quốcnội được hiểu là một hệ thống văn bản pháp quy của một quốc gia bao gồmHiến pháp, luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ,thực tiễn tư các nước như Hungari, Ba Lan, Áo, Thụy Sĩ, Séc, Slovakia, Nam Tư cũban hành hệ thống luật pháp của mình Bộ luật tư pháp quốc tế. Khác với cácnước này, các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế củaViệt Nam không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản pháp quykhác nhau ở nhiều ngành luật khác Luật các quốc gia trên lĩnh vực hàng hảiHầu hết các quốc gia có biển và thậm chí cả những quốc gia không có biển đãban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hàng hải. Đó là các luậtvà các văn bản dưới luật tạo thành một hệ thống các quy phạm quy định chocác hoạt động hàng hải và vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Ở các nước17
Hình thức thi Thi 90 phút, Đề cương, Giáo trình, Bài giảng, Vở ghi Luật hàng hải quốc tế Slide Luật hàng hải quốc tế Bài tập Luật hàng hải quốc tế Đề kiểm tra Luật hàng hải quốc tế Đề thi Luật hàng hải quốc tế Đề thi kỳ 1 năm 2018 Vận đơn. Hình thức phát hành vận điểm pháp lý của vận loại hợp đồng thuê tàu và định nội dung và phân tích các đặc thù của hàng hải quốc tế 4 điểm >> XEM TÀI LIỆU TẤT CẢ CÁC MÔN HỌC TẠI ĐÂY << KÊNH HỌC TẬP ONLINE FREE EUREKA! UNI HỆ THỐNG GROUP THẢO LUẬN, HỎI ĐÁP CÁC MÔN HỌC Group Toán cao cấp Group Xác suất thống kê Group Kinh tế lượng Group Kinh tế vi mô Group Kinh tế vĩ mô Fanpage của Eureka! Uni Website Eureka! Uni
luật hàng hải quốc tế